https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/issue/feed Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng (TCKHCNXD) - ĐHXDHN 2026-03-02T07:48:06+00:00 JSTCE stce@huce.edu.vn Open Journal Systems <p><br><br><br></p> https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3507 Table of Contents 2026-02-25T10:02:49+00:00 Editorial Board stce@huce.edu.vn 2026-02-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3330 Ảnh hưởng của độ cứng thanh giằng chịu nén trong thiết kế kết cấu khung thép có giằng X chịu động đất theo TCVN 9386:2012 2026-02-25T09:56:10+00:00 Nguyễn Thành Đạt thanhdatntd2612@gmail.com Hàn Ngọc Đức duchn@huce.edu.vn Ngô Hữu Cường ngohuucuong@hcmut.edu.vn Đinh Văn Thuật thuatdv@huce.edu.vn <p>Bài báo trình bày kết quả tính kết cấu nhà thép 6 tầng có giằng X chịu động đất theo TCVN 9386 có kể đến các yếu tố ảnh hưởng do xoắn ngẫu nhiên, không hoàn hảo của kết cấu, hiệu ứng bậc hai, vượt cường độ vật liệu và vượt độ bền chịu lực của các thanh giằng chịu kéo. Năm mô hình XBF-0, XBF-25, XBF-50, XBF-75 và XBF-100 được khảo sát tương ứng với các thanh giằng chịu nén có độ cứng thay đổi từ 0, 25, 50, 75 và 100% đồng đều cho các tầng. Kết quả gồm nội lực để tính các cấu kiện chịu tải trọng động đất theo hai phương ngang và các tải trọng đứng trong tình huống chịu động đất. Kết quả cho thấy nội lực tính toán các thanh giằng chịu kéo giảm đến 60% ở tầng một và 36% ở tầng mái so với mô hình XBF-0 được sử dụng trong TCVN 9386. Đồng thời, nội lực nén để tính cột giảm đến 9% ở tầng mái trong khi lại tăng nhẹ đến 2% ở các tầng một và hai. Ngoài ra, trong trường hợp cột chịu nén đúng tâm, độ bền ổn định tính theo EN 1993-1-1 có giá trị lớn hơn theo TCVN 5575:2024 khoảng 15 đến 18%.</p> 2026-02-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3383 Ảnh hưởng của các phương pháp xử lý bề mặt sợi tổng hợp tái chế đến sức kháng kéo của bê tông gia cường lưới sợi 2026-02-25T09:56:11+00:00 Trương Văn Đoàn doantv@tlu.edu.vn Ngô Trí Thường trithuong@tlu.edu.vn Phạm Ngọc Thịnh thinhtls@tlu.edu.vn Lê Văn Bách lvbach@utc2.edu.vn Nguyễn Văn Thông thong.nguyen@ut.edu.vn <p>Nghiên cứu này này trình bày kết quả thực nghiệm về sức kháng kéo của bê tông gia cường lưới sợi polyethylene tái chế (PETRCCs) và ảnh hưởng của các phương pháp xử lý bề mặt sợi đến sức kháng kéo của bê tông. Lưới đánh cá polyethylene (PE) tái chế, sau khi được xử lý bề mặt sử dụng keo epoxy và silicafume, được cắt thành các lớp gia cường trong mẫu kéo. Kết quả thí nghiệm kéo trực tiếp mẫu hình xương chó (dog-bone) cho thấy quan hệ ứng suất - biến dạng của PETRCCs là ứng xử giảm cứng cơ học với hai giai đoạn bao gồm giai đoạn đàn hồi và giai đoạn giảm cứng cơ học. Phương pháp xử lý bề mặt sợi bằng keo epoxy làm tăng 8% cường độ kháng kéo, và làm tăng 28% khả năng hấp thụ năng lượng của PETRCCs. Phương pháp xử lý bề mặt bằng silicafume cũng làm tăng 46% khả năng hấp thụ năng lượng, nhưng làm giảm 6% cường độ kháng kéo của bê tông gia cường lưới sợi.</p> 2026-02-25T09:42:31+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3448 Xác định các đặc trưng động của tấm sàn ứng lực trước căng trước dựa vào phương pháp đo dao động 2026-02-25T09:56:11+00:00 Phạm Ngọc Lâm phamngoclam111191@gmail.com Nguyễn Hướng Dương duongnh2@huce.edu.vn Đặng Việt Hưng hungdv@huce.edu.vn Nguyễn Trung Hiếu hieunt@huce.edu.vn <p>Nghiên cứu này trình bày phương pháp và quy trình xử lý dữ liệu từ thí nghiệm đo dao động một tấm sàn bê tông ứng lực trước căng trước một phương. Mẫu thí nghiệm là một bản sàn dự ứng lực nhịp đơn giản dài 3m. Trên bề mặt sàn, hệ lưới đo dao động gồm 33 cảm biến gia tốc được bố trí thành 3 hàng, mỗi hàng có 11 cảm biến. Tấm sàn được kích thích dao động bằng búa cao su và tín hiệu dao động được ghi lại thông qua hệ thống thu thập dữ liệu NI. Quy trình xử lý tín hiệu được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích trên miền tần số (FDD) để xác định tần số và dạng dao động uốn của sàn. Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát ảnh hưởng của mật độ cảm biến đến độ chính xác của dạng dao động. Kết quả thấy rằng, với phép đo 33 cảm biến, ba tần số riêng và dạng dao động uốn của sàn thu được từ thí nghiệm có tương quan tốt với mô phỏng số khi sai lệch về tần số dao động không vượt quá 4% và chỉ số MAC của dạng dao động thứ nhất lớn hơn 99%. Tuy nhiên, khi số cảm biến giảm đi thì độ chính xác, độ mượt của các dạng dao động giảm nhanh đặc biệt là dạng dao động bậc cao.</p> 2026-02-25T09:42:55+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3247 Giải pháp kết cấu đảm bảo ổn định cho hệ thống kết cấu tường có lỗ rỗng nhằm giảm sóng tràn lên đảo có thềm trước dốc lớn 2026-02-25T09:56:12+00:00 Nguyễn Văn Báu baunv@huce.edu.vn Lương Cao Linh linhlc@huce.edu.vn Đỗ Thành Long longdt@huce.edu.vn Nguyễn Trung Dũng dungnt4@huce.edu.vn Hồ Đức Đạt dathd@huce.edu.vn Nguyễn Quang Tạo taonq@huce.edu.vn Bùi Thế Anh anhbt@huce.edu.vn Đinh Quang Cường cuongdq@huce.edu.vn <p>Thí nghiệm trên mô hình vật lý đã khẳng định hiệu quả giảm sóng tràn khi đặt một tấm có lỗ rỗng phía trước tường kè bờ đảo có thềm trước dốc lớn một khoảng cách phù hợp. Tuy nhiên việc ứng dụng kết quả nghiên cứu trên mô hình vật lý vào thực tế gặp khó khăn trong việc đảm bảo ổn định cho kết cấu tường có lỗ rỗng. Bài báo này đề xuất và lựa chọn giải pháp kết cấu phù hợp để đỡ hệ thống tường có lỗ rỗng nhằm giảm sóng tràn qua tường kè lên đảo có thềm trước dốc lớn, để đảm bảo an toàn khi khai thác vận hành hệ thống hạ tầng ven các đảo mới tôn tạo. Các kết quả tính toán kiểm tra ổn định của hệ thống kết cấu đỡ và các tường có lỗ rỗng trong điều kiện thực tế đã minh chứng tính khả thi của giải pháp kết cấu mới mà bài báo đề xuất.</p> 2026-02-25T09:43:53+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3457 Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và từ trường đến đặc trưng dao động của tấm nano FGM 2026-02-25T09:56:12+00:00 Vũ Văn Thẩm thamvv@huce.edu.vn <p>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và từ trường đến đặc trưng dao động của tấm nano FGM (vật liệu có cơ tính biến thiên) áp từ có lỗ rỗng (NaPoMag) trên nền đàn hồi Winkler-Pasternak. Mô hình giải tích được xây dựng dựa trên lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất đơn giản (SFSDT) kết hợp lý thuyết đàn hồi phi cục bộ (NET). Các phương trình cân bằng được thiết lập từ nguyên lý Hamilton cho tấm hình chữ nhật có bốn biên tựa khớp, với phân bố từ trường theo chiều dày được mô tả bằng tổ hợp hàm lượng giác và hàm tuyến tính. Lời giải Navier được áp dụng để xác định tần số dao động riêng. Độ tin cậy của mô hình lý thuyết và chương trình tính được kiểm tra bằng cách so sánh với các kết quả đã được báo cáo trước đây. Tiếp theo, các khảo sát tham số được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nền đàn hồi, tính chất vật liệu, kiểu và hệ số lỗ rỗng, kích thước hình học, nhiệt độ, độ ẩm, từ trường áp đặt và tham số phi cục bộ đến tần số dao động của tấm NaPoMag. Điểm mới của nghiên cứu là đề xuất mô hình giải tích SFSDT kết hợp NET cho tấm nano FGM áp từ có lỗ rỗng đặt trên nền Winkler-Pasternak, xét đồng thời tác động của nhiệt độ, độ ẩm và từ trường, qua đó cung cấp cơ sở tham khảo cho thiết kế và tối ưu kết cấu nano trong điều kiện làm việc thực tế.</p> 2026-02-25T09:44:49+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3475 Kiểm soát chất lượng không khí trong nhà giai đoạn đầu vận hành: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam 2026-03-02T07:48:06+00:00 Nguyễn Thành Trung trungnt1@huce.edu.vn <p>Chất lượng không khí trong nhà (IAQ) trong giai đoạn vận hành ban đầu của tòa nhà (0–12 tháng) thường đạt mức ô nhiễm cao nhất do phát thải từ vật liệu hoàn thiện, đồ nội thất, hoạt động vệ sinh và vận hành thử. Mục tiêu chính của bài báo này là tổng quan các tài liệu quốc tế từ năm 2017–2025 về IAQ trong các tòa nhà mới và được cải tạo, tập trung vào hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (TVOC), formaldehyde (HCHO) và bụi mịn (PM), đồng thời đo kiểm chứng trong năm văn phòng mới ở Việt Nam. Bằng chứng tổng hợp cho thấy TVOC và HCHO đều vượt quá ngưỡng tham chiếu gấp nhiều lần trong những tháng đầu và PM tăng mạnh trong quá trình hoàn thiện nội thất. Kết quả nghiên cứu cho thấy để đạt được IAQ cần thực hiện các biện pháp, bao gồm: (1) kiểm soát phát thải tại nguồn (vật liệu phát thải thấp, xây dựng sạch và quản lý tiến độ); (2) tăng cường thông gió trước khi sử dụng và các chiến lược thông gió thông minh; (3) lọc/làm sạch không khí; (4) kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để hạn chế phát thải và sự phát triển của nấm mốc; và (5) giám sát liên tục và tích hợp vào hệ thống quản lý tòa nhà (BMS). Dựa trên các nghiên cứu và đánh giá thực tiễn cần triển khai giải pháp cơ bản theo hướng tích hợp nhằm bảo đảm IAQ đạt mức chấp nhận được, qua đó tạo lập môi trường sống và làm việc trong lành, an toàn và có lợi cho sức khỏe người sử dụng.</p> 2026-02-25T09:45:35+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3410 Phân tích trường biến dạng và chuyển vị, cùng sự phát triển vết nứt trong kết cấu bê tông cốt thép lắp ghép bằng kỹ thuật tương quan ảnh số 2026-02-25T09:56:14+00:00 Nguyễn Văn Hùng hungnv4@huce.edu.vn Nguyễn Quang Huy huynq@huce.edu.vn Vũ Tiến Chương chuongvt@huce.edu.vn <p>Các phương pháp đo truyền thống như quan sát trực quan hay sử dụng cảm biến dịch chuyển vi sai tuyến tính (Linear Variable Differential Transformer, LVDT) còn nhiều hạn chế, như chỉ ghi nhận được biến dạng tại các điểm cục bộ, dễ mất số liệu đo khi biến dạng lớn và không phản ánh được toàn trường biến dạng/chuyển vị của kết cấu. Nghiên cứu này ứng dụng kỹ thuật Tương quan ảnh số (Digital Image Correlation – DIC) để theo dõi trường biến dạng và phân tích quá trình hình thành, lan truyền vết nứt trong nút dầm-cột bê tông cốt thép (BTCT) lắp ghép dưới kịch bản phá hủy lũy tiến. Hệ thống DIC hai chiều được triển khai song song với LVDT nhằm kiểm chứng độ chính xác và khả năng nhận dạng biến dạng cục bộ. Kết quả cho thấy chuyển vị đo bằng DIC có độ tương đồng cao với LVDT, đặc biệt duy trì ổn định ở giai đoạn biến dạng lớn khi cảm biến tiếp xúc mất tín hiệu. Dữ liệu toàn trường giúp xác định chính xác vị trí, hướng và bề rộng vết nứt qua từng giai đoạn tải trọng. Bề rộng vết nứt tại hai trạng thái đặc trưng, đó là TT1 (bắt đầu xuất hiện vết nứt) và TT2 (cốt thép lớp dưới dầm chảy dẻo), được đối chiếu với dự báo theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1 (2004) [1]. Kết quả so sánh cho thấy sự sai lệch đáng kể giữa thực nghiệm và lý thuyết tại giai đoạn sau chảy dẻo, qua đó làm rõ giới hạn áp dụng của các công thức thiết kế quy ước đối với trạng thái biến dạng lớn. Điều này khẳng định tiềm năng của DIC như một công cụ thực nghiệm hiệu quả để đánh giá ứng xử phá hoại phức tạp của kết cấu BTCT lắp ghép tại biến dạng lớn mà các mô hình tính toán hiện hành chưa phản ánh đầy đủ.</p> 2026-02-25T00:00:00+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3426 Mô hình phân tích ứng xử chịu xoắn dầm bê tông cốt sợi thép 2026-02-25T09:56:14+00:00 Nguyễn Vĩnh Sáng sangnv@tlu.edu.vn <p>Mô hình màng hóa mềm chịu xoắn (SMMT) được phát triển nhằm dự báo ứng xử chịu xoắn cho cấu kiện bê tông cốt thép (BTCT). Khác với đặc tính giòn và cường độ chịu kéo thấp của bê tông thông thường, việc bổ sung sợi thép vào bê tông hình thành nên dạng vật liệu bê tông cốt sợi thép (SFRC) nhằm cải thiện các nhược điểm này. Ảnh hưởng của sợi thép dẫn tới ứng xử vật liệu này khác với bê tông thông thường, đặc biệt khi sử dụng làm kết cấu có bố trí cốt thép. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất một mô hình mới để dự báo ứng xử chịu xoắn cho dầm SFRC, bằng cách hiệu chỉnh SMMT (SMMT-SFRC). Trong mô hình đề xuất, yếu tố sợi thép được xem xét như thành phần bổ sung chịu kéo. Đồng thời, ảnh hưởng của sợi thép đến ứng xử mềm hóa bê tông chịu nén và ứng xử sau chảy dẻo cốt thép chịu lực (thép dọc, thép đai) được kể đến. Độ chính xác và tin cậy của mô hình SMMT-SFRC được kiểm chứng với các nghiên cứu thực nghiệm đã được công bố trước đây. Kết quả tính toán cho thấy, mô hình đề xuất dự báo hợp lý ứng xử và khả năng chịu xoắn của dầm SFRC so với thực nghiệm.</p> 2026-02-25T09:48:14+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3226 Nghiên cứu cường độ của đất cát trộn xi măng gia cường sợi tái chế từ rác thải lưới đánh cá 2026-02-25T09:56:15+00:00 Lương Thị Bích luongthibich@muce.edu.vn Nguyễn Sĩ Vinh nguyensivinh@muce.edu.vn Nguyễn Quốc Huy nguyenquochuy@muce.edu.vn Phan Trần Thanh Trúc phantranthanhtruc@muce.edu.vn <p>Xi măng là một trong những chất kết dính vô cơ được sử dụng phổ biến trong địa kỹ thuật, cải thiện hiệu quả cường độ của đất nền. Tuy nhiên, xi măng cũng có thể làm đất được xử lý trở nên ứng xử giòn. Bài báo này nghiên cứu sự ảnh hưởng của sợi lưới tái chế từ rác thải lưới đánh cá (WFN) lên cường độ kháng nén (UCS) và biến dạng dọc trục của đất cát gia cố xi măng để khắc phục hạn chế về tính giòn của vật liệu. Các mẫu thí nghiệm hình trụ có kích thước H × D = (100 × 90) mm được chế tạo bằng cách sử dụng cát mịn trộn 10% xi măng PCB, và sợi lưới đánh cá thải với các hàm lượng lần lượt 1%, 2%, 3%, 4%, 5%, và 6% theo khối lượng đất khô. Thí nghiệm cường độ kháng nén các mẫu tại 7, 14, và 28 ngày tuổi được thực hiện theo tiêu chuẩn ASTM D2166. Kết quả cho thấy việc bổ sung sợi lưới vào đất-xi măng đã làm tăng cả cường độ kháng nén và biến dạng dọc trục khi phá hoại, đồng thời chuyển đổi ứng xử của đất được xử lý từ giòn sang dẻo hơn. Hàm lượng sợi lưới tối ưu được xác định là 4%, với cường độ kháng nén sau 28 ngày đạt 1,49 MPa, cao gấp đôi so với mẫu đất-xi măng không gia cường lưới.</p> 2026-02-25T09:49:08+00:00 ##submission.copyrightStatement## https://stce.huce.edu.vn/index.php/vn/article/view/3368 Nghiên cứu sự làm việc theo thời gian của tường chắn đất sử dụng cốt mạ kẽm tự chế tạo 2026-02-25T09:56:15+00:00 Nguyễn Thu Hà ntha@dut.udn.vn Châu Trường Linh ctlinh@dut.udn.vn <p>Tường chắn đất có cốt (tường MSE) sử dụng cốt mạ kẽm tự chế tạo (SGSM) từ cốt thép xây dựng của các doanh nghiệp trong nước đang được quan tâm nghiên cứu. Theo thời gian, cốt bị ăn mòn, giảm yếu cường độ, ảnh hưởng đến sự an toàn của tường. Bài báo nghiên cứu phát triển chương trình MSE-ANT để dự đoán mức độ an toàn của tường theo thời gian thông qua giá trị ăn mòn cốt (COR), lực kéo còn lại trong cốt (Fres), thời gian phục vụ của tường (t′), “cảnh báo sớm phá hoại tường” và tối ưu chiều dày cốt (e′0). Chương trình MSE-ANT tính toán đối với tường MSE sử dụng SGSM: Môi trường không bị xâm thực, tính đến năm khai thác thứ 120, COR nhỏ hơn 200 µm, Fres lớn hơn 92% lực kéo ban đầu, t′ = 310,44 năm, lớn hơn nhiều so với tuổi thọ thiết kế; Môi trường bất lợi nhất (công trình ven bờ biển), t′ = 36,71 năm, không đảm bảo tuổi thọ thiết kế. Nghiên cứu này giúp đánh giá sự làm việc theo thời gian của tường để chọn chiều dày cốt phù hợp, đảm bảo xây dựng tường đạt hiệu quả về kỹ thuật và kinh tế.</p> 2026-02-25T09:49:48+00:00 ##submission.copyrightStatement##